Nghe - Xem - Nghĩ - Viết
Nghe - Xem - Nghĩ - Viết turned 2 today!

Nghe - Xem - Nghĩ - Viết turned 2 today!

This note changed my life

Em làm ơn thôi ăn cứt đi, được không?

November 30, 2012 at 3:53am

*By Bút chì.

Note from FB https://www.facebook.com/notes/but-chi/em-l%C3%A0m-%C6%A1n-th%C3%B4i-%C4%83n-c%E1%BB%A9t-%C4%91i-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-kh%C3%B4ng/10151127049930919

Em thân yêu,

Nếu em quen anh, thì chắc em đã đọc không dưới ba lần cái chuyện con khỉ trên đảo cứt (*). Ấy nhưng mà em có thực sự hiểu cái chuyện ấy là chuyện gì không? Có đủ hiểu để ngưng được việc ăn cứt và vãi cứt đi không? Hôm nay, nhân dịp lâu lắm rồi anh không viết cái gì bẩn thỉu, thôi thì anh lại nói với em, về cứt.

Tức là như thế này. Mỗi ngày lên mạng, em đọc gì? Dantri, Vietnamnet hay Phunutoday? Kenh14, HaiVL hay VOZ? (Khoan đã, nếu em không thò đầu vào mấy cái bể phốt kể trên, thì em cũng không nên đọc tiếp bài viết này làm gì. Tắt máy đi chơi đi.) Ừ, những cái bể phốt, em ạ. Ngập ngụa rác rưởi và cứt đái. Rất hiếm khi em có thể tìm được cái gì đọc mà làm em vui, em cười, em reo lên ồ đẹp quá, đáng yêu quá, tuyệt vời quá. Chả có mấy thứ làm não em giãn ra rồi nhăn lại một cách thích thú hả hê để bật ra cái gì mới mẻ sáng tạo. Lại càng hiếm khi em gặp cái gì làm em thêm niềm tin vào cuộc sống, vào con người, vào cái tương lai vốn dĩ đã rất mù mịt đang lủng lẳng treo trước mũi em. Những cái ống cống tin tức đó cho em ăn (feeds) bao nhiêu em há mồm ra nuốt bấy nhiêu. Nuốt xong, vì không tiêu được, em lại miệng nôn trôn tháo hết ra, rồi thì người khác phải dọn, ít nhất cũng phải ngửi mùi. Duy trì cái chu trình hàng ngày ấy em không thấy tởm và chán sao? 

Như hôm nay em đọc được tin về đám trẻ trâu kia khóc tu tu vì thần tượng. Giá em cứ coi như gặp cục cứt bên đường, em tránh ra cho đỡ thối, thì đã không sao. Đằng này em ngồi phệt xuống em nốc vào bằng hết, xong em mắng, em chửi, em cay đắng chua xót em bảo rằng ối giời cứt ơi là cứt sao mày không biết nhục hả cứt. Lại như hôm qua em vớ được tin rằng nhà kia có chuyện bố chồng dính lẹo với nàng dâu gỡ mãi không ra. Thế là em vừa cười hahaha vừa đem cứt ấy đi vãi khắp những chỗ em có thể vãi, em thêm mắm thêm muối, thêm tiêu thêm ớt cho li kì rùng rợn. Đến lúc vỡ ra rằng ấy là tin bịa đặt, em lại cũng châu vào chửi này mắng nọ, phân này tích kia, rằng thì là mà cái lọ không phải cái chai. Đến một lúc, anh có cảm giác như xem bầy cún vẫy đuôi ngồi hóng cứt. Gâu, lão quan kia nói ngu vê lờ. Vê lờ vê lờ. Gâu, con ca sĩ kia tư cách thật là bẩn thỉu. Bẩn thỉu bẩn thỉu. Gâu, bọn chó Tàu lại giở mánh lưỡi bò. Lưỡi bò lưỡi bò. Ấy xong rồi em và đồng bọn xông vào cắn nhau xem ai đúng ai sai, cứt ai thơm cứt ai thối. Trong khi đó, ống cống biết quá rõ thói xấu của các em, nên hễ cần là lại tuôn ra đúng loại cứt thơm ngon dậy mùi. Gâu gâu gâu ẳng ẳng ẳng. Phẹt phẹt.

Anh từng nói với thằng Cầm Bùi bạn anh, cái thằng admin trang Lá Cải Chấm Ọt ấy, là anh nể nó vô cùng. Nể ở chỗ ngày nào cũng như ngày nấy, gần hai năm nay, hơn tất cả bọn em cộng lại, một mình nó nốc hết toàn bộ cứt đái do cái gọi là nền báo chí Việt Nam thải ra. Thế xong rồi tùy cảm hứng tùy tâm trạng tùy thời gian cho phép, nó sẽ cắm vào bãi này một cái biển RẤT THỐI, lại cắm vào đống nọ một cái biển THỐI VỪA VỪA, xong thỉnh thoảng hứng lên lại cắm vào một chỗ nào đó cái biển KHÔNG THỐI LẮM MÀ LẠI CÒN HƠI THƠM. Của đáng tội nó được cái thông minh, nó lắm kiểu lắt léo chơi chữ, nên các em thích ngồi hóng xem nó cắm biển chỗ nào để chạy lại cười hê hê hê. Xong like. Xong comment. Xong tung lên Facebook. Mà không biết là mình đang đem cứt đi vung vãi khắp nơi.

Nếu Sếch-pia có đội mồ sống dậy hỏi em rằng TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI, hẳn em và đồng bọn sẽ cười cho đến khi ổng tự đào lỗ chôn mình lần nữa. Vì lịch sử nhiều nghìn năm của dân tộc em đã chứng minh, dù mang thân nô lệ kiểu này hay kiểu khác, chưa bao giờ đồng bào em yếu ớt hoang mang đến mức chọn việc KHÔNG TỒN TẠI. Không, tồn tại là tất yếu. Thà chết chứ không chịu hy sinh. Hỏi tồn tại hay không tồn tại là hỏi ngu, hỏi vớ vẩn. Cho nên hôm nay, nhân ngày đẹp giời ta ngồi uống trà ngắm trăng bàn chuyện cứt đái, anh đề nghị với em một câu hỏi khác, gần gũi hơn, thiết thân hơn.

ĂN CỨT HAY KHÔNG ĂN CỨT, ấy chính là câu hỏi.

Nếu em quên, thì hôm nay anh muốn nhắc em nhớ rằng, cái em đang có trong tay là một thứ tên là In-tơ-nét. Thứ này kì diệu lắm. Thượng vàng hạ cám, cao lương mỹ vị, rác rưởi cứt đái không thiếu một cái gì. Và ăn gì, ăn như thế nào, là quyền của em, là lựa chọn của em. Thời gian của em có hạn. Não bộ của em có chừng. Hãy chọn ăn cái gì ngon cái gì bổ. Hãy chia sẻ cái gì đẹp cái gì hay. Mà nếu nhỡ có ăn phải cứt, thì cũng đừng vì thế mà phát rồ phát dại, mắng chửi nhau chì chiết nhau. Lại càng đừng nên đem cứt đái đi vãi khắp nơi chỉ để chứng minh rằng ồ cái nơi đây thật là thối nát. Hãy dọn dẹp. Hãy trồng hoa. Chúng ta phận bạc, nhỡ sinh ra làm thân con khỉ trên đảo cứt, thì cố gắng, cố gắng làm sao để cái chu trình vô tận kia đừng kéo dài ra thêm nữa. Em nhé.



——
(*) “Ở nơi kia, xa, xa lắm, có một hòn đảo cứt. Một hòn đảo không tên. Một hòn đảo không đáng được đặt tên. Một hòn đảo cứt, hình thù như cứt. Trên hòn đảo cứt đó mọc những cây dừa hình thù cũng cứt. Những cây dừa đó cho những quả dừa có mùi cứt. Có lũ khỉ như cứt sống trên những cây dừa đó, chúng thích ăn những quả dừa có mùi cứt đó, ăn xong chúng ị ra thứ cứt kinh tởm nhất trên đời. Cứt đó rơi xuống đất, lâu ngày thành cả ụ cứt, làm những cây dừa cứt mọc trên đó đã cứt lại càng cứt. Đó là một chu trình vô tận.” - Haruki Murakami, Biên niên ký chim vặn dây cót.
Tâm tư người xa xứ
Xứ Tư Bản Đang Giẫy Chết

Anh khuyên tôi: “Hãy quên đi thù hận”
Về quê hương xây dựng nước non nhà
Bằng tài năng học hỏi chốn phương xa
Đảng, nhà nước hoan nghênh người viễn xứ!

Anh khuyên tôi hãy “khép lại quá khứ”
Quên những ngày khói lửa dậy trời Nam
Chiến xa Nga hằn đậm vết hung tàn
Trên đường phố Sài Gòn ngày quốc hận!

Anh bảo tôi quên những ngày lận đận
Cha đi tù, mẹ buôn gánh bán bưng
Nuôi đàn con trong khốn khổ tột cùng
Tôi phải thôi học, sáng ngô chiều sắn

Vâng, tôi cố quên những ngày mưa, nắng
Đi mò cua, giúp mẹ buổi cơm chiều
Quên những ngày nước ngập mái tranh xiêu
Đêm u tịch hãi hùng: “kinh tế mới”!

Giờ, tha phương, quê nhà xa dịu vợi
Tôi sống cuộc đời dân chủ ấm no
Nhưng dân tôi ĐANG khắc khoải mong chờ
Ngày sụp đổ của bạo quyền tàn độc

Thương quê hương, bao lần tôi bật khóc
Thấy lương dân trong kiếp sống khốn cùng
Thương dân hiền cam chịu kiếp lao lung
Khổ đến nổi đem con mình đi bán!

Tôi chống anh KHÔNG PHẢI VÌ DĨ VÃNG
Mà là vì HIỆN TẠI với TƯƠNG LAI
Vì dân tôi ĐANG sống kiếp đọa đày
Thế hệ trẻ nhìn TƯƠNG LAI VÔ ĐỊNH!

Thì anh ơi, nói chi lời lừa phỉnh
Đến bây giờ, ai tin cộng sản đâu
Nếu thật lòng xin hãy thực hiện mau
Cuộc hòa giải với người dân quốc nội:

Hãy ngưng ngay những hành động bỉ ổi
Ngưng đuổi nhà, cưởng chiếm đất nhân dân
Ngưng đào mồ, sang phẳng những mộ phần
Xây khách sạn làm giàu cho đảng ủy

Hãy ngưng ngay những ngón nghề phù thủy
Đạo giáo quốc doanh, dân chủ cò mồi
Hứa hòa hợp hòa giải ở đầu môi
Nhưng cộng đảng vẫn độc quyền chúa tể

Nếu thật tình thì hãy mau giải thể
Đảng độc tài cộng sản (đảng vô lương)
Người TỴ NẠN bốn bể sẽ hồi hương
Đem tài sức hiến dâng cho đất nước

Hứa với anh, tôi là người đi trước! 
Thế hệ tôi một thế hệ cúi đầu

Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu
Cúi đầu trước tiền tài, cúi đầu sau mông người khác
Cúi đầu trước chính mình, cúi đầu bạc nhược
Chỉ ngầng đầu…
…vì…
…đôi lúc…
…phải cạo râu!

Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất
Cuộc sống bon chen
Tay trần níu chặt
Bàn chân trần không dám bước hiên ngang.
Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang
Đâu là tự do, đâu là lý tưởng?
Đâu là vì mình, và đâu là vì nước
Những câu hỏi vĩ mô cứ luẩn quẩn loanh quanh…

Thế hệ tôi, ngày và đêm đảo lộn tanh bành
Đốt ngày vào đêm, và đốt đêm không ánh sáng
Nếu cho chúng tôi một nghìn ngày khác
Cũng chẳng để làm gì, có khác nhau đâu?

Thế hệ tôi, tự ái đâu đâu
Và tự hào vì những điều huyễn hoặc
Tự lừa dối mình, cũng như lừa người khác
Về những niềm tin chẳng chút thực chất nào!

Chúng tôi nghe và ngắm những siêu sao
Chỉ với mươi lăm nghìn cho vài ba tin nhắn
Văn hóa ngoại giao là trà chanh chém gió
Và nồi lẩu tinh thần là những chiếc I-phone

Thế hệ tôi, ba chục đã quá già
Và bốn chục, thế là đời chấm hết
Không ghế để ngồi, thì thôi, ngồi bệt
Mối lo hàng ngày là tiền trong tài khoản có tăng lên?

Thứ đắt nhất bây giờ là từng lạng NIỀM TIN
Thứ rẻ nhất, lại là LỜI HỨA
Sự dễ dãi đớn hèn khuyến mại đến từng khe cửa
Có ngại gì mà không phản bội nhau?

Không, tôi không đại diện thế hệ mình đâu!
Và thế hệ tôi cũng không đại diện cho điều gì sất!
Trăm năm sau, lịch sử sẽ ghi vài dòng vắn tắt:
Có một thế hệ buồn, đã nhạt nhẽo đi qua…

Ngắn

Hội nghị họp để kỷ luật một đồng chí. Chủ tọa bảo một đồng chí:

- Giờ đồng chí được nói lời cuối cùng. Nói đúng sẽ bị khai trừ, nói sai sẽ bị mất chức.

- Tôi sẽ bị mất chức.


- Đồng chí nói đúng rồi, vậy đồng chí sẽ bị khai trừ.

- Nhưng nếu tôi nói đúng thì tôi phải bị mất chức chứ.

- Ok, vậy thì cho đồng chí mất chức.

- Ơ, nhưng như thế thì tôi lại nói đúng, vậy tôi phải bị khai trừ chứ.

Chủ tọa trầm ngâm suy nghĩ mãi rồi nói:

- Hội nghị đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật một đồng chí.

(Ghi theo lời kể của phóng viên Hoàng Hối Hận)

Hàng loạt khái niệm, từ ngữ trong tiếng Việt đã bị phá hỏng. Từ “nhạy cảm” vốn dĩ là một từ rất đẹp (thậm chí tôi từng coi đó là một trong những tiêu chí để đánh giá một ai đó là thông minh), bây giờ có nghĩa là “không dùng được, không mê được, phải tránh xa”. Từ “quần chúng” vốn có nghĩa là “khối đông người” trong tương quan với một thiểu số, thì bây giờ thành ra tập hợp những “đối tượng” ngoài Đảng, tức là tập hợp những cá nhân không đủ ưu tú để được vào Đảng và tham gia vào những quá trình ra quyết định rất là quan trọng của chi bộ Đảng… Càng ngày từ này càng có hàm ý miệt thị. Một từ khác cũng đang biến tướng dần để trở thành giống “quần chúng”, đó là từ “dân”.


“Hai tiếng yêu nước bây giờ đã trở thành tục tĩu” – ông Nguyễn Gia Kiểng dẫn lời một người Việt nói “một cách mỉa mai và chua xót” như thế từ năm 2000. Lúc ấy cả hai ông đều không biết rằng, 11-12 năm sau, hai tiếng yêu nước còn tục tĩu hơn nữa kia.

Moskva slezam ne verit (Москва слезам не верит), 1980.
Moskva slezam ne verit (Москва слезам не верит), 1980.

CUỘC CHIẾN INTERNET VÀ ĐÂU LÀ CƠ HỘI CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT? Chủ đề “nóng” trong vài ngày qua là sự so sánh về chính sách giữa các doanh nghiệp Internet Việt nam và quốc tế, và bản thânmột vài phát biểu của Minh trong một số hội thảo được các bạn phóng viên trích dẫn lại cho các bài viết với một số tựa đề khá …giật gân (http://biz.cafef.vn/20120207050130826CA47/facebook-co-the-se-khien-vinagame-sup-do-trong-5-nam-toi.chn):) Bài viết dưới đây vừa chia sẻ thêm những suy nghĩ của Minh xung quanh vấn đề này, vừa coi như là phần 2 của một bài viết cách đây hơn 2 năm về sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài trên Internet (http://me.zing.vn/apps/blog?params=minh/blog/detail/id/268435610) 1) VNG có khả năng bị Facebook “giết chết” trong 5 năm tới không?

Read More

"Quả bom" Đoàn Văn Vươn

Osin Huy Đức

————————

Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.

Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện

Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.

Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.

Sở Hữu Toàn Dân

Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.

Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.

Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.

Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.

Các Nhà Làm Luật

Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.

Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50 năm. Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.

Đất Dân Quyền Quan

Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.

Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.

Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.

Danh Chính Ngôn Thuận

Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.

Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.

Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.

Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.

Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.

Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tấc đất của mình thì mới thấy của đau, con xót.

Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ ./.